PHẦN I: CÂU TRẮC NGHIỆM NHIỀU PHƯƠNG ÁN LỰA CHỌN ⇱
PHẦN II: CÂU TRẮC NGHIỆM ĐÚNG SAI ⇱
Câu 25. Cho đoạn tư liệu sau đây:
“Khác với các trật tự trước kia không phân chia quyền lực giữa các đồng minh, trật tự Xô - Mỹ là sự canh tranh quyền lực giữa các đổi thủ đối kháng nhau. Mặt khác, trật tự ấy kết thúc một cách khác thường: không do chiến tranh, không có hiệp định ký kết, mà do một cực là Liên Xô tự tan rã. Những đặc điểm vừa nêu của trật tự thế giới Xô - Mỹ tạo thành yếu tổ đầu tiên tác động đến quá trình hình thành trật tự thế giới mới”.
(Nguyễn Viết Tháo: Trật tự thế giới trong kỉ nguyên toàn cầu hóa, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/3688/trat-tu-the-gioi-trong-ky-nguyen-toancau-hoa.aspx)
Câu 26. Cho những thông tin trong bảng sau đây:

Câu 27. Cho đoạn tư liệu sau đây:
“Quyết tâm của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng đưa chiến tranh cách mạng phát triển đến mức cao nhất, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân ngụy, đánh chiếm Sài Gòn, sào huyệt trung tâm của địch cũng như tất cả các thành thị khác, đánh đồ ngụy quyền ở Trung ương và các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà”.
(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, Tập 35, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.185)
Câu 28. Cho đoạn tư liệu sau đây:
“Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến thắng rất lớn của quân và dân ta từ trước đến nay:
- Nó là một thắng lợi rất lớn về tiêu diệt sinh lực địch tiêu diệt một tập đoàn cứ điểm mạnh của địch.
- Nó là một thắng lợi lớn của ta trong việc hoàn thành nhiệm vụ giải phóng vùng chiến lược Tây Bắc.6
- Nó có tác dụng lớn trong việc góp phần đảm bảo thắng lợi cho một bước quan trọng của cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ của ta và tạo điều kiện cho ta giành thắng lợi lớn hơn nữa”.
(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, Tập 15, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.96-97)