LỊCH SỬ 12 - BÀI 12: HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN NĂM 1975 - Trắc nghiệm Đúng sai 8

Họ tên: nhập tên

LỊCH SỬ 12
CHỦ ĐỀ 5: LỊCH SỬ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM THỜI CẬN – HIỆN ĐẠI
BÀI 12: HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN NĂM 1975
Bài tập 8 (Câu hỏi trắc nghiệm đúng sai)
----------------------------------------
Câu hỏi thuộc Tài liệu chuyên sâu lớp 12 môn Lịch sử (Dùng chung cho cả ba bộ sách theo chương trình 2018)
Tác giả: Thầy Tạ Quang Quyết và nhóm thầy cô giáo viên Lịch sử các trường THPT
Làm bài online: https://yourhomework.net/quiz/test/000000431143
Họ tên:_____________________________________ Lớp:__________

Đọc đoạn tư liệu sau đây

“Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ XIII – khoá III (tháng 1/1967) quyết định triệt để tận dụng thời cơ, mở mặt trận ngoại giao, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị nhằm đưa cuộc kháng chiến lên bước phát triển mới. Hội nghị xác định “đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao… Đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”.
Nguồn: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2003, tr. 174.

Câu 1. Đấu tranh ngoại giao chính thức trở thành một mặt trận từ Hội nghị trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ XIII (1/1967).
Câu 2. Trong uộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mặt trận ngoại giao quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Câu 3. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại, cùng làm nên thắng lợi.
Câu 4. Đấu tranh ngoại giao giữ vai trò tích cực, chủ động và là cơ sở của những thắng lợi trên chiến trường.

Đọc bảng dữ liệu sau đây

Câu 5. Nhân dân ba nước Đông Dương đoàn kết trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Câu 6. Bảng dữ liệu cho thấy chủ trương kết hơp linh hoạt đấu tranh quân sự, chính trị, đối ngoại của Đảng Lao động Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Câu 7. Cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 của quân Giải phóng miền Nam buộc Mỹ phải thừa nhận thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Câu 8. Những thắng lợi quân sự, chính trị, đối ngoại của Việt Nam (1969 – 1973) cho thấy sự nghiệp cách mạng muốn thành công chỉ cần dựa vào sức mạnh nội lực.

Đọc đoạn tư liệu sau đây

“Chống lại các thủ đoạn và luận điệu ngoại giao nham hiểm của Mỹ, ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phối hợp với ngoại giao của Mặt trận Dân tộc giải phóng tiến hành nhiều hoạt động ngoại giao và vận động quốc tê nhằm hai hướng chính: đề cao chính nghĩa dân tộc, nêu cao quyết tâm của nhân dân Việt Nam quyết đánh và quyết thắng cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ; tập trung mũi nhọn lên án cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, lên án các hành động leo thang chiến tranh và các tội ác của Mỹ trên cả hai miền, mạnh mẽ bác bỏ các luận điệu dối trá của Mỹ "đàm phán không điều kiện" và "hai bên cùng rút quân”.
Nguồn: Nguyễn Khắc Huỳnh, Nghệ thuật ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris, NXB Chính trị Quốc gia, 2014, tr. 33.

Câu 9. Nhiệm vụ hàng đầu của các hoạt động đối ngoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thống nhất đất nước.
Câu 10. Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và ngoại giao của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là hai nền ngoại giao biệt lập, không có sự ràng buộc.
Câu 11. “Đàm phán không điều kiện”, “hai bên cùng rút quân” là một trong hai hướng chính của đấu tranh ngoại giao Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
Câu 12. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đề cao chính nghĩa dân tộc góp phần chống lại các thủ đoạn và luận điệu dối trá của Mỹ.

Đọc đoạn tư liệu sau đây

“Việc ký kết Hiệp định Paris là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao đầy bản lĩnh và trí tuệ, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự. Ngọn cờ chính nghĩa và sự đồng thuận trên dưới một lòng của toàn Đảng, toàn dân tạo nên sức mạnh chính trị vững chắc và kiên định. Những chiến thắng trên chiến trường thúc đẩy diễn tiến của cuộc đấu tranh ngoại giao: cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 buộc đối phương phải đề nghị đàm phán, chiến dịch Xuân - Hè 1972 đưa cuộc đàm phán đi vào thực chất, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” đi tới việc ký kết Hiệp định. Sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao là một kinh nghiệm quý báu và thiết thực trong cuộc cách mạng Việt Nam”.
Nguồn: Vũ Dương Ninh, Lịch sử Quan hệ đối ngoại Việt Nam 1940 – 2020, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2022, tr. 253.

Câu 13. Hiệp định Paris là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao đầy bản lĩnh và trí tuệ, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự.
Câu 14. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, cuộc kháng chiến của ta chuyển sang giai đoạn “vừa đánh, vừa đàm”.
Câu 15. Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” đi tới việc ký kết Hiệp định Pari, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Câu 16. Từ việc kí kết Hiệp định Pari cho thấy, mặt trận ngoại giao cần được mở ra ngay từ đầu cuộc kháng chiến.

Đọc đoạn tư liệu sau đây

“Vào nửa đầu năm 1972, trên sân khấu chính trị quốc tế đã diễn ra cuộc chuyển dịch chính sách giữa ba nước lớn Mỹ - Trung Quốc - Liên Xô với những mưu đồ tính toán riêng… Liên Xô tiếp tục theo đuổi chính sách hòa hoãn với Mỹ, mong chờ cuộc gặp cấp cao về vấn đề giải trừ vũ khí chiến lược và kéo Mỹ về phía mình trong thế đối chọi với Trung Quốc. Mỹ thấy rõ lợi thế của mình trong mâu thuẫn Trung - Xô, muốn lợi dụng tình hình đó để vận động hai nước gây sức ép với Hà Nội trong cuộc đàm phán Paris về chiến tranh ở Việt Nam… Trên trường quốc tế, việc Trung Quốc và Liên Xô tiếp đón tổng thống Mỹ vào thời điểm quyết liệt của chiến tranh là điều không có lợi cho Việt Nam và rõ ràng “Thực tế Việt Nam đã trở thành món hàng mặc cả để giữ thế cân bằng lực lượng giữa các nước lớn ở Đông Nam Á”. Mặc dầu các nhà lãnh đạo cả hai nước xã hội chủ nghĩa đều hứa hẹn về sự tiếp tục ủng hộ Việt Nam, song những cái bắt tay ở Bắc Kinh và Moscow giữa đồng minh với đối thủ của Việt Nam là những tín hiệu không tốt lành, cảnh báo nhiều nguy cơ khó lường”.
Nguồn: Vũ Dương Ninh, Lịch sử Quan hệ đối ngoại Việt Nam 1940 – 2020, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2022, tr 238 – 243.

Câu 17. Năm 1972, sự chuyển dịch chính sách giữa ba nước lớn Mỹ - Trung Quốc – Liên Xô tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đàm phán của ta ở Paris.
Câu 18. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc, Liên Xô đều hứa hẹn về sự tiếp tục ủng hộ Việt Nam là những tín hiệu tốt lành với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của ta.
Câu 19. Mỹ muốn lợi dụng Trung Quốc, Liên Xô để gây sức ép với ta tại cuộc đàm phán ở hội nghị Paris.
Câu 20. Chính sách ngoại giao “Ba bên” của Mĩ đã mang đến nhiều nguy cơ khó lường cho các nước xã hội chủ nghĩa.

My name: nhập tên

[Đổi tên/Not you?]

Kết quả bài làm:
LỊCH SỬ 12 - BÀI 12: HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN NĂM 1975 - Trắc nghiệm Đúng sai 8